Luật Đà Lạt K28

Tìm hiểu thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự

Posted on: 13/02/2011

Điều 162 Bộ luật Dân sự quy định “Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự”. Sau đây là một tình huống thực tế vụ án dân sự tranh chấp đất đai. Tôi đưa ra tình huống và quan điểm của mình để cùng các bạn thảo luận.

Điều 162. Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự

1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây:

a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;

b) Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;

c) Các bên đã tự hoà giải với nhau.

2. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này.

About these ads
Thẻ:

4 phản hồi to "Tìm hiểu thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự"

MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG

LG. NGUYỄN THỊ HẰNG NGA – Chi hội luật gia Công ty luật số 5 Quốc gia

Việc xác định đúng thời hiệu khởi kiện có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động giải quyết tranh chấp của cơ quan Tòa án cũng như trong hoạt động tư vấn pháp luật của các Luật sư. Nhiều vụ việc trên thực tiễn là những bài học “đau đớn” cho các đương sự vì không nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự còn nhiều điểm bất cập, tạo nên nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn cho thực tiễn áp dụng, ảnh hưởng không ít đến quyền lợi của đương sự.

Bài viết này chúng tôi trao đổi một số vấn đề về các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, cách tính thời hiệu, những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng (chủ yếu tiếp cận đối với việc giải quyết tranh chấp kinh doanh- thương mại)[1].

Điều 159 BLTTDS quy định thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện yêu cầu tòa giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà đương sự được quyền yêu cầu cơ quan tòa án giải quyết vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Quy định về thời hiệu khởi kiện buộc các đương sự phải ý thức được việc bảo vệ quyền lợi của mình và sớm có yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tránh tình trạng khởi kiện tuỳ hứng.

Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm. Như vậy, để xác định đúng thời hiệu khởi kiện, phải xác định được quan hệ tranh chấp đó có được văn bản pháp luật nào khác quy định về thời hiệu khởi kiện hay không. Điều quan trọng thứ hai là phải xác định đúng ngày nào được coi là ngày có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm để bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện.

Theo Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS 2005 tại tiểu mục 2.2 Mục 2 phần IV thì thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm và được xác định như sau:

a1. Đối với nghĩa vụ dân sự mà các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định thời hạn thực hiện, nếu hết thời hạn đó mà bên có nghĩa vụ không thực hiện, thì ngày hết hạn thực hiện nghĩa vụ là ngày xảy ra vi phạm;

a2. Đối với nghĩa vụ dân sự mà các bên không thỏa thuận hoặc pháp luật không quy định thời hạn thực hiện, nhưng theo quy định của pháp luật các bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho nhau biết trước trong một thời gian hợp lý, nếu hết thời hạn đã được thông báo đó bên có nghĩa vụ không thực hiện, thì ngày hết thời hạn đã được thông báo là ngày xảy ra vi phạm;

a3. Trường hợp khi hết hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự, các bên có thỏa thuận kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ đó, thì việc xác định ngày vi phạm căn cứ vào ngày chấm dứt thỏa thuận của các bên và được thực hiện như hướng dẫn tại điểm a1 và điểm a2 nói trên;

a4. Trong quá trình thực hiện hợp đồng mà có vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, thì ngày vi phạm nghĩa vụ là ngày xảy ra vi phạm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Nếu một bên đơn phương đình chỉ hợp đồng thì ngày đơn phương đình chỉ hợp đồng là ngày vi phạm.

a5. Đối với trường hợp đòi bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm tài sản, sức khoẻ, tính mạng…, thì ngày xảy ra hành vi xâm phạm tài sản, sức khoẻ, tính mạng… là ngày vi phạm;

a6. Trong một quan hệ pháp luật hoặc trong một giao dịch dân sự, nếu hành vi xâm phạm xảy ra ở nhiều thời điểm khác nhau, thì thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện được tính kể từ thời điểm xảy ra hành vi xâm phạm cuối cùng;

a7. Trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm a1,a2,a3,a4,a5 nói trên, nếu các bên có thỏa thuận khác về thời hiệu, thì thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện được tính theo thỏa thuận của các bên.

Mặc dù Nghị quyết 01 nói trên hưóng dẫn cách xác định thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện rất cụ thể như vậy nhưng việc xác định trên thực tế không mấy dễ dàng. Đối với tranh chấp trong kinh doanh thương mại, cách xác định còn mang đặc thù riêng.

Tranh chấp kinh doanh- thương mại phát sinh trong nhiều lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực đều có văn bản pháp luật chuyên ngành (hẹp) điều chỉnh. Ví dụ, hợp đồng xây dựng chịu sự điều chỉnh của Luật xây dựng, hợp đồng bảo hiểm chịu sự điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm, hợp đồng trong lĩnh vực hàng hải chịu sự điều chỉnh của Bộ luật hàng hải, hợp đồng tín dụng chịu sự điều chỉnh của pháp luật về tài chính, ngân hàng… Thời hiệu khởi kiện đối với những tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực này, cũng có thể được văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh, nếu không được văn bản luật chuyên ngành điều chỉnh thì sẽ áp dụng quy định của Luật thương mại 2005 về thời hiệu khởi kiện, theo đó, thời hiệu khởi kiện các tranh chấp trong hoạt động thương mại cũng là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 Luật Thương mại[2]. Quy định này trùng với quy định về thời hiệu khởi kiện của Điều 159 BLTTDS. Tuy nhiên, người áp dụng cũng cần phải lưu ý căn cứ pháp lý để xác định thời hiệu là Luật Thương mại chứ không phải là BLTTDS, điều luật cần phải viện dẫn là Điều 319 Luật Thương mại chứ không phải là Điều 159 BLTTDS. Thực tế cho thấy, các Thẩm phán khi viết án thường trích cả hai điều luật trên về thời hiệu khởi kiện là không đúng. Thậm chí còn có Thẩm phán trích dẫn cả Điều 31 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án Kinh tế và Điều 159 BLTTDS[3].

Đối với tranh chấp trong kinh doanh, thương mại thời hiệu khởi kiện không chỉ được quy định khác về thời gian mà còn khác cả về phương pháp tính. Lấy đơn cử, các tranh chấp trong lĩnh vực hàng hải được Bộ luật hàng hải quy định nhiều loại thời hiệu khởi kiện khác nhau cho từng quan hệ tranh chấp khác nhau. Đối với tranh chấp về hư hỏng, mất mát hàng hóa vận chuyển theo chứng từ vận chuyển là một năm, kể từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng (Điều 97). Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng vận chuyển theo chuyến là 2 năm, kể từ ngày người khiếu nại biết hoặc phải biết quyền lợi của mình bị xâm phạm (Điều 118). Thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường tổn thất do hành khách chết, bị thương hoặc tổn hại khác về sức khoẻ và mất mát, hư hỏng hành lý là hai năm (Điều 137). Thời điểm để tính thời hiệu được quy định cụ thể trong từng trường hợp (trường hợp hành khách bị thương thì tính từ ngày hành khách rời tàu; trường hợp hành khách chết trong thời gian vận chuyển thì tính từ ngày lẽ ra hành khách rời tàu; trường hợp hành khách bị thương trong quá trình vận chuyển dẫn đến hậu quả hành khách đó chết sau khi rời tàu thì tính từ ngày người đó chết, nhưng không được quá 3 năm, kể từ ngày rời tàu; trường hợp mất mát, hư hỏng hành lý thì tính từ ngày hành khách rời tàu hoặc ngày lẽ ra hành khách rời tàu, tuỳ thuộc vào thời điểm nào muộn hơn). Nếu có việc tạm đình chỉ hoặc gián đoạn thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường đối với trường hợp này thì thời hiệu khởi kiện cũng không được quá 3 năm kể từ ngày hành khách rời tàu hoặc ngày lẽ ra hành khách rời tàu, tuỳ thuộc vào thời điểm nào muộn hơn. Đối với vụ việc liên quan đến hợp đồng thuê tàu, thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ ngày chấm dứt hợp đồng. Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng đại lý tàu biển, hợp đồng môi giới hàng hải, hợp đồng lai dắt tàu biển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải là 2 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp (Điều 164, Điều 168, Điều 183, Điều 257). Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng cứu hộ hàng hải là hai năm, kể từ ngày kết thúc hành động cứu hộ (Điều 195). Thời hiệu khởi kiện về tai nạn va đâm là 2 năm, kể từ ngày xảy ra tai nạn. Trong trường hợp bồi thường tính mạng, sức khỏe hoặc tổn hại khác về sức khỏe con người, các tàu có lỗi phải chịu trách nhiệm liên đới. Tàu đã bồi thường vượt quá trách nhiệm của mình có quyền đòi các tàu liên quan hoàn trả số tiền quá mức đó và thời hiệu khởi kịên về việc đòi hoàn trả là 1 năm, kể từ ngày trả tiền bồi thường (Điều 211). Thời hiệu khởi kiện về tổn thất chung là 2 năm, kể từ ngày xảy ra tổn thất chung. Thời gian tiến hành phân bổ tổn thất chung không tính vào thời hiệu khởi kiện về tổn thất chung (Điều 218).

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cũng gặp nhiều vướng mắc bởi sự khác biệt này. Điều mà người vận dụng băn khoăn là hướng dẫn tại tiểu mục 2.2. của Nghị quyết 01 về cách xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện có áp dụng cho trường hợp thời hiệu khởi kiện do văn bản quy phạm pháp luật khác quy định? Điều đó dẫn đến những cách hiểu khác nhau trong việc xác định những vấn đề sau:

*
Xác định ngày phát sinh tranh chấp như thế nào?

Điều dễ nhầm lẫn là việc xác định ngày phát sinh tranh chấp khác với ngày có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Không phải có vi phạm là đã có tranh chấp. Vậy xác định ngày phát sinh tranh chấp như thế nào? Khi BLTTDS 2005 đã có hiệu lực, Tòa án tối cao chỉ hướng dẫn về cách xác định ngày có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chứ không hướng dẫn về ngày phát sinh tranh chấp như trước đây. BLTTDS có hiệu lực làm cho các văn bản hướng dẫn Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đương nhiên hết hiệu lực. Như vậy, người áp dụng pháp luật sẽ rất lúng túng trong việc xác định ngày phát sinh tranh chấp. Trên thực tế việc xác định ngày phát sinh tranh chấp vô cùng phức tạp.

Sở dĩ có sự “vênh” giữa các quy định pháp luật, phải chăng do các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành được xây dựng vào thời điểm Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế còn có hiệu lực nên nhà làm luật vẫn sử dụng thuật ngữ “ngày phát sinh tranh chấp”, trong khi BLTTDS không còn sử dụng thuật ngữ này?

*
Xác định thời hiệu khởi kiện như thế nào khi tranh chấp phát sinh trong quá trình hợp đồng thuê tàu đang được thực hiện?

Điều 142 Bộ luật hàng hải quy định tranh chấp liên quan đến hợp đồng thuê tàu thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ ngày hợp đồng chấm dứt. Giả sử A thuê tàu của B, thời hạn thuê tàu là 3 năm, tiền thuê tàu được thanh toán trước một nửa. Hợp đồng thực hiện được 1 năm thì A có văn bản đề nghị chấm dứt hợp đồng vì chất lượng tàu không đảm bảo và đòi lại số tiền thuê đã trả. B không đồng ý và giữa hai bên phát sinh tranh chấp. A khởi kiện ra Tòa án. Vụ việc này thời hiệu khởi kiện được xác định như thế nào? Có quan điểm cho rằng thời điểm để xác định thời hiệu khởi kiện là ngày bên A có văn bản đề nghị chấm dứt hợp đồng. Có quan điểm khác cho rằng áp dụng Điều 142 nói trên, thời điểm để tính thời hiệu khởi kiện là ngày hợp đồng chấm dứt. Điều đó có nghĩa, nguyên đơn khởi kiện trước thời điểm tính thời hiệu khởi kiện? Vấn đề cần xác định là hiểu như thế nào với quy định “tranh chấp liên quan đến hợp đồng thuê tàu” để xác định thời hiệu khởi kiện?

*
Xác định thời hiệu đối với tranh chấp giữa thành viên Công ty với Công ty, giữa thành viên công ty với nhau như thế nào?

Đối với tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty, tranh chấp thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, tổ chức lại doanh nghiệp chưa có quy định cụ thể về thời hiệu khởi kiện được xác định như thế nào. Như vậy, theo Điều 159 BLTTDS, tranh chấp công ty cũng có thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ ngày có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp Điều 107 Luật doanh nghiệp 2005 quy định đối với trường hợp yêu cầu huỷ quyết định của Đại hội cổ đông, thời hạn để các chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm được thực hiện quyền yêu cầu Tòa án huỷ là 90 ngày kể từ ngày nhận được biên bản của Đại hội cổ đông. Còn các tranh chấp khác trong công ty, quan niệm ngày nào là ngày có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm cũng chưa rõ ràng. Ví dụ, thành viên công ty kiện Giám đốc có hành vi gây thiệt hại lợi ích của Công ty, ngày nào được coi là ngày có quyền, lợi ích bị xâm phạm? là ngày mà Giám đốc đã có hành vi gây thiệt hại, hay ngày thành viên đó biết được việc gây thiệt hại? Hai thời điểm đó có thể khác nhau.

Theo quy định của Điều 160 BLTTDS thì các quy định của Bộ luật Dân sự về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự; do đó, việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện, thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện, bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện… được thực hiện theo quy định của BLDS 2005 (Điều 161, Điều 162).

Về cách tính thời hạn, BLDS 2005 quy định khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo của ngày được xác định (khoản 2 Điều 152 BLDS 2005). Trở lại hướng dẫn của Nghị quyết 01, đối với vụ việc dân sự mà trong văn bản quy phạm pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ ngày có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm theo quy định của khoản 3 Điều 159 BLTTDS và lưu ý nếu tranh chấp phát sinh trước ngày 01/01/2005, thì thời hạn là hai năm kể từ ngày 01/01/2005 (tiểu mục 2.1, mục 2, phần IV). Bên cạnh đó, Điều 156 BLDS 2005 quy định “thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu”.

Tranh cãi về việc áp dụng cách tính thời hạn theo quy định của BLDS 2005 cũng được đặt ra đối với hướng dẫn nói trên của Nghị quyết 01. Có quan điểm cho rằng, những tranh chấp phát sinh trước ngày 01/01/2005 thì thời hiệu khởi kiện là 2 năm tính từ ngày 01/01/2005, và như vậy thời hiệu khởi kiện hết vào ngày 31/12/2006 (cách tính này áp dụng theo Điều 156 BLDS 2005). Nhưng cũng có quan điểm khác cho rằng, ngày bắt đầu tính thời hiệu là ngày 02/01/2005 (cách tính này áp dụng theo Điều 152 BLDS 2005) và như vậy, ngày hết thời hiệu khởi kiện là ngày 02/01/2007. Dù sự chênh lệch không nhiều, nhưng đối với quyền lợi của các đương sự, một ngày cũng đủ để cứu vớt quyền lợi của họ trước nguy cơ hết thời hiệu khởi kiện. Vậy phương pháp tính thời hiệu khởi kiện nào là phương pháp đúng? Chúng tôi cho rằng, cần có sự thống nhất về phương pháp tính thời hiệu để tránh thiệt hại cho các đương sự.

Điều 161 BLDS 2005 quy định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau:

1.
Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu;
2.
Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
3.
Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết.

Quy định này dường như trở nên bất cập với tình huống sau: Công ty cổ phần An Khang, Giám đốc Công ty là Ông Khang, là người đại diện theo pháp luật của Công ty kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị đã lợi dụng danh nghĩa Công ty vay vốn Ngân hàng với số tiền lên tới 2 tỷ đồng và dùng tài sản của Công ty để thế chấp. Theo quy định của Điều lệ, với những hợp đồng vay như vậy phải được sự thông qua của Hội đồng quản trị nhưng ông Khang đã tự ý giao kết hợp đồng vay và sử dụng số tiền vay được vào mục đích cá nhân. Đại hội cổ đông của Công ty đã được triệu tập bất thường để xem xét vi phạm này của ông Khang và tiến hành biểu quyết bầu lại Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty. Tuy nhiên, ông Khang có đơn khiếu nại gửi đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xem xét về hiệu lực của quyết định của Đại hội cổ đông. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã yêu cầu Công ty tiếp tục duy trì các chức danh quản lý của ông Khang. Trong thời gian này phía Ngân hàng khởi kiện Công ty đòi lại 2 tỷ đồng và Ngân hàng đã chủ động phát mại tài sản của Công ty để thu hồi vốn. Vì không có người đại diện theo pháp luật để đứng ra khởi kiện bảo vệ lợi ích của Công ty, Công ty tiếp tục tiến hành đại hội bầu người đại diện theo pháp luật mới của Công ty để thực hiện việc khởi kiện. Quá trình tiến hành các lần triệu tập, tiến hành họp, thông qua cuộc họp mất rất nhiều thời gian. Cuối cùng, khi đơn kiện được gửi đến Tòa án thì Tòa án trả lại đơn vì vụ việc đã hết thời hiệu khởi kiện.

Trong trường hợp này, thời gian gặp trở ngại vì không có người đại diện để thực hiện việc khởi kiện hợp lệ không được cộng vào thời hiệu khởi kiện theo quy định của Điều 161 nói trên. Và chúng tôi cho rằng điều đó là bất hợp lý. Nên chăng điều luật này cần được quy định thêm về những trở ngại đối với trường hợp pháp nhân chưa xác định được người đại diện. Có như vậy mới khắc phục được nhiều bất cập trong thực tiễn, ví dụ như người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chết, người đại diện đột nhiên mất năng lực hành vi…mà doanh nghiệp chưa có người thay thế để thực hiện việc khởi kiện. Khi đó, thời gian này cũng nên được cộng vào thời gian tính thời hiệu khởi kiện. Với những tình huống như vậy, giải pháp nên là, doanh nghiệp, dù chưa có người đại diện hợp lệ, vẫn tiến hành việc khởi kiện, sau đó khi xác định được người đại diện hợp lệ, doanh nghiệp sẽ khởi kiện lại để đỡ mất thời hiệu khởi kiện (Tòa án sẽ tính thời điểm khởi kiện là thời gian nộp đơn lúc đầu).

Điều 162 BLDS 2005 quy định về các trường hợp bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, theo đó, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp:

1.
Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
2.
Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
3.
Các bên đã tự hòa giải với nhau.

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại, kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra một trong những sự kiện nói trên. Tuy nhiên, trên thực tế điều luật này dường như bị lãng quên. Hơn nữa, điểm b của Điều 162 được hiểu như thế nào cũng chưa rõ ràng. Xin được viện dẫn ví dụ sau: Ngày 16/2/2002, Công ty THHH Hoàng Hà ký hợp đồng uỷ thác mua sắn lát với Công ty TNHH Hòa Bình. Theo hợp đồng, Công ty Hoàng Hà nhận thu mua 100 tấn sắn lát. Tổng giá trị lô hàng là 500 triệu đồng. Phí uỷ thác là 10% trên giá trị thu mua được. Công ty Hòa Bình đã ứng trước cho Công ty Hoàng Hà 400 triệu. Thời gian thực hiện hợp đồng là 1 năm kể từ ngày ký. Thực hiện hợp đồng, Công ty Hoàng Hà chỉ thu mua được 50 tấn. Công ty Hòa Bình đề nghị Công ty Hoàng Hà tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng để có đủ hàng giao cho Công ty của Hà Lan. Do không thể thu gom với giá ấn định nên Công ty Hoàng Hà có văn bản đề nghị chấm dứt hợp đồng. Ngày 1/2/2004, Công ty Hoàng Hà và Công ty Hòa Bình có văn bản xác nhận nợ, theo đó Công ty Hoàng Hà thừa nhận còn nợ Công ty Hòa Bình 150 triệu đồng (Công ty Hoàng Hà chưa được trừ phí uỷ thác vì phía Công ty Hòa Bình cho rằng Công ty Hoàng Hà chưa thực hiện xong hợp đồng) và cam kết sẽ trả hết nợ vào cuối tháng 2 năm 2004. Nhưng cho đến ngày 15/10/2004, Công ty Hoàng Hà mới chuyển trả được 35 triệu đồng và sau đó dừng hẳn việc trả nợ. Sau nhiều lần đề nghị thanh toán không thành, ngày 13/10/2006, Công ty Hòa Bình gửi đơn kiện đến TAND có thẩm quyền.

Xung quanh vụ việc này, cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về việc áp dụng điều luật khôi phục lại thời hiệu khởi kiện. Nếu áp dụng điểm a khoản 1, Điều 171 BLDS 1995 (thời điểm này còn áp dụng Điều 171 BLDS 1995, nay là Điều 162 BLDS 2005) về khôi phục lại thời hiệu khởi kiện, thời hiệu khởi kiện được tính lại từ ngày 1/2/2004 là ngày Công ty Hoàng Hà thừa nhận nghĩa vụ và thời hiệu khởi kiện được tính đến ngày 1/2/2006. Ngày 13/10/2006, Công ty Hòa Bình mới khởi kiện, như vậy, vụ việcđã hết thời hiệu khởi kiện. Nếu áp dụng điểm b khoản 1 Điều 171, vụ việc còn thời hiệu khởi kiện, vì ngày 15/10/2004, Công ty Hoàng Hà đã thực hiện một phần nghĩa vụ đối với Công ty Hòa Bình, như vậy thời hiệu khởi kiện được tính lại từ ngày đó và vụ việc hết thời hiệu cho đến ngày 15/10/2006. Cách hiểu nào đúng vẫn còn nhiều tranh luận. Ngoài ra, còn có quan điểm khác cho rằng, thời điểm này áp dụng quy định của Luật thương mại 1997, theo đó thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ ngày phát sinh quyền khiếu nại. Trong khi vụ việc được áp dụng thời hiệu theo Luật Thương mại 1997 thì có áp dụng Điều 171 của BLDS 1995 hay không cũng chưa có quan điểm thống nhất.

Cũng vụ việc trên, có thể mở rộng thêm tình huống Công ty Hoàng Hà đã chuyển trả nợ nhiều lần. Vậy, lần trả nợ nào được xác định làm mốc để xác định ngày bắt đầu lại thời hiệu? Là ngày cuối cùng mà Công ty Hoàng Hà trả một phần nợ? Để có cơ sở thống nhất cho việc áp dụng, cần có hướng dẫn cụ thể từ phía Tòa án nhân dân tối cao, tránh việc áp dụng tuỳ tiện.

Trong thực tiễn, việc viện dẫn mất quyền yêu cầu tòa án do hết thời hiệu khởi kiện có thể xuất phát từ một bên trong tranh chấp hợp đồng. Việc đương sự viện dẫn quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện để cho rằng vụ việc đã hết thời hiệu khởi kiện, đề nghị Tòa án bác yêu cầu của đối phương hiển nhiên được thừa nhận, đó là quyền phòng vệ của một bên tranh chấp.

Ngoài các bên đương sự, thực tiễn xét xử của Việt Nam cho thấy, nhiều trường hợp Tòa án tự viện dẫn quy định về thời hiệu khởi kiện để bác yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, vấn đề cần bàn là Tòa án có quyền tự viện dẫn quy định về thời hiệu để bác yêu cầu của các bên hay không? Xin viện dẫn ví dụ sau: Năm 1995, Công ty A bán cho Công ty B 64 tấn dầu. Khi có tranh chấp, Tòa án có thẩm quyền đã buộc Công ty B bồi thường cho Công ty A một khoản tiền. Sau đó, tại bản án phúc thẩm, Tòa phúc thẩm TANDTC buộc Công ty B phải thanh toán cho Công ty A một khoản tiền nhỏ hơn. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa phúc thẩm TANDTC thụ lý vụ việc và không đề cập đến vấn đề thời hiệu khởi kiện trong bản án. Tuy nhiên, trong Kháng nghị của Chánh án TANDTC đã nhận định “thời điểm phát sinh tranh chấp hợp đồng được tính từ ngày 5/10/1995. Theo quy định tại Điều 31 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì thời hiệu khởi kiện là 6 tháng kể từ ngày phát sinh tranh chấp. Trong thời hiệu khởi kiện (từ ngày 5/10/1995 đến hết ngày 5/4/1996) Công ty A đã không làm đơn khởi kiện… Do đó, kể từ ngày 6/4/1996, Công ty A không còn quyền khởi kiện ra tòa án đối với Công ty B về việc vi phạm hợp đồng kinh tế nêu trên[4]“. Ở ví dụ này, chính Chánh án TANDTC đã viện dẫn việc mất quyền khởi kiện của Công ty A.

Việc cơ quan tiến hành tố tụng tự viện dẫn vụ việc đã hết thời hiệu để không giải quyết vụ án dân sự cho thấy thực tiễn pháp luật Việt Nam khác với nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới. Bộ luật Dân sự Pháp, Điều 2223 quy định thẩm phán không thể tự viện dẫn việc hết thời hiệu khởi kiện. Pháp luật của một số nước cũng có quy định tương tự. Ở một số nước, trong đó có Pháp, tòa án cấp cao hơn sẽ hủy bản án sơ thẩm hay phúc thẩm nếu thẩm phán tự mình viện dẫn việc mất quyền khởi kiện của một bên trong hợp đồng do hết thời hiệu trong khi không được bên kia của hợp đồng yêu cầu. Điều 10.9, khoản 1 Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế (General Principle of Commercial Contracts), được nhiều nước thừa nhận rộng rãi cũng có quy định “việc hết thời hiệu chỉ có hiệu lực nếu bên có nghĩa vụ viện dẫn việc hết thời hiệu như là một biện pháp tự vệ”. Như vậy, nhiều nước trên thế giới thừa nhận việc hết thời hiệu không có hiệu lực tự động mà nó chỉ có hiệu lực khi một bên viện dẫn điều đó như một biện pháp tự vệ. Theo đó, cơ quan tố tụng không được tự viện dẫn việc hết thời hiệu để từ chối quyền yêu cầu của một bên trong hợp đồng nếu không được bên kia yêu cầu.

Có quan điểm cho rằng việc cơ quan tiến hành tố tụng tự viện dẫn một bên mất quyền khởi kiện vì đã hết thời hiệu khởi kiện khi không được bên kia trong hợp đồng yêu cầu dường như đi ngược lại với tinh thần của nguyên tắc tự do quyết định, định đoạt của đương sự được ghi nhận tại Điều 5 BLTTDS, trong khi đó, quan hệ hợp đồng là loại quan hệ mà quyền định đoạt và quyết định của các bên là rất cao. Vì vậy, điểm a, khoản 1, Điều 168 BLTTDS quy định chung chung rằng, tòa án trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp thời hiệu khởi kiện đã hết là không hợp lý. Để pháp luật Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế và để tôn trọng quyền tự do quyết định, định đoạt của các bên trong tranh chấp hợp đồng, không nên cho phép cơ quan tiến hành tố tụng tự viện dẫn việc mất quyền khởi kiện của một bên khi không được bên kia yêu cầu. Đồng thời, để giải pháp này được áp dụng hài hòa thì điểm a, Khoản 1, Điều 168 BLTTDS nên quy định trong lĩnh vực hợp đồng, tòa án chỉ trả lại đơn khởi kiện vì thời hiệu khởi kiện đã hết nếu được một bên trong tranh chấp yêu cầu việc đó[5]. Chúng tôi ủng hộ quan điểm này. Thiển nghĩ, xét cho cùng việc viện dẫn thời hiệu khởi kiện chỉ là phương pháp phòng vệ của các bên tranh chấp, Tòa án không nên làm thay đương sự những việc mà đương sự không yêu cầu./.

[1] Các vụ việc tác giả nêu có thể là những vụ việc có thật được tác giả biên tập lại, cũng có thể là những tình huống giả định

[2] Lưu ý đối với những tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực thương mại trước khi Luật Thương mại 2005 có hiệu lực thì cách tính thời hiệu khởi kiện có điểm khác, thời điểm tính thời hiệu khởi kiện là ngày phát sinh quyền khiếu nại chứ không phải là ngày có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm

[3] Bản án số 271/KTST ngày 14/4/2005- TAND TP Hà Nội

[4] Kháng nghị số 01/KT-TK ngày 23/3/1998 của Chánh án TANDTC

[5] Tham khảo bài viết của tác giả Đỗ Văn Đại, Đỗ Văn Hữu đăng trên http://www.nclp.org.vn ngày 18/7/2006

SOURCE: TẠP CHÍ NGHỀ LUẬT – HỌC VIỆN TƯ PHÁP

Trích dẫn từ: http://www.luatsuvietnam.vn/vi/our-services/3-hot-ng-tranh-tng/303-mt-s-quy-nh-v-thi-hiu-khi-kin-v-an-dan-s-va-nhng-vng-mc-trong-thc-tin-ap-dng.html

HẬU QUẢ CỦA HẾT THỜI HIỆU KHỞI KIỆN

ĐỖ VĂN ĐẠI – ĐỖ VĂN HỮU

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc, thì mất quyền khởi kiện.

Theo Thông tư liên ngành số 03/TTLN của Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) và Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 10/08/1996, “Bộ luật Dân sự không có quy định về thời hiệu khởi kiện đối với vi phạm hợp đồng dân sự, do đó, các hợp đồng dân sự được xác lập từ ngày 1/7/1996 mà có vi phạm, thì bên bị vi phạm không bị hạn chế thời gian khởi kiện trước Toà án, nếu pháp luật không có quy định khác”. Nhưng theo Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004, trong trường hợp pháp luật không có quy định khác thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự là hai năm. Như vậy, thời hiệu khởi kiện này rất ngắn. Do đó, những tranh chấp về hậu quả của việc hết thời hiệu sẽ tăng. Với thực tiễn pháp lý ở Việt Nam, chúng tôi phân tích hậu quả của hết thời hiệu khởi kiện trong lĩnh vực hợp đồng.

1. Hết thời hiệu làm mất quyền yêu cầu tòa án giải quyết

Mất quyền khởi kiện

Trong thực tiễn pháp lý, khi thời hiệu khởi kiện không còn, quyền yêu cầu tòa án của các chủ thể chấm dứt. Ví dụ: Ngày 20/12/1995, vợ chồng bà Bé làm tờ thế chấp tài sản với nội dung đồng ý thế chấp căn nhà ở thôn H. để vay bà Xuân 178 triệu đồng với lãi suất 3%/tháng, thời hạn trả là cuối tháng 12/1996 (âm lịch). Năm 2002, hai bên có tranh chấp và yêu cầu tòa án can thiệp. Tại bản án sơ thẩm số 119/DSST ngày 15/10/2002, Toà án nhân dân (TAND) huyện S nhận định: “kể từ năm 1997 đến nay bà Xuân không còn chứng cứ nào khác để chứng minh do khách quan nên không thể đòi số nợ trên, từ đó căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 tại điểm b, Khoản 3 và điểm a, Khoản 6; Khoản 2, Điều 36 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự; Khoản 1, Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 thì thời hiệu khởi kiện đã hết, bà Xuân đã mất quyền khởi kiện nên vụ kiện sẽ được đình chỉ theo quy định của pháp luật”. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 136 ngày 18/11/2004, Toà dân sự TANDTC xét: “Hợp đồng vay nợ giữa bà Xuân với vợ chồng bà Bé được xác lập ngày 20/12/1995, thời hạn thanh toán hết tháng 12 (âm lịch) năm1996. Căn cứ vào Khoản 1, Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991… Đến năm 2002, bà Xuân mới khởi kiện đòi nợ vợ chồng bà Bé là đã quá thời hạn khởi kiện. Về phía bà Xuân không chứng minh được từ thời điểm bên vay tiền vi phạm hợp đồng (tháng 12/1996 âm lịch) đến năm 2002 giữa hai bên có thoả thuận kéo dài thêm thời hạn trả nợ nên không có cơ sở để tính lại thời hiệu. Do đó, tại bản án sơ thẩm số 119 ngày 15/10/2002, TAND huyện S xác định bà Xuân hết quyền khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ kiện là đúng pháp luật”.

Như vậy, theo thực tiễn pháp lý Việt Nam, khi hết thời hiệu khởi kiện, bên có quyền mất quyền yêu cầu tòa án can thiệp, bảo vệ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là ai có thể viện dẫn việc mất quyền khởi kiện?

Chủ thể viện dẫn mất quyền khởi kiện

Trong thực tiễn, việc viện dẫn mất quyền yêu cầu tòa án do hết thời hiệu khởi kiện có thể xuất phát từ một bên trong tranh chấp hợp đồng, ví dụ: tranh chấp giữa ông Phát và bà Hoa liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Mặc dù chưa được uỷ ban nhân dân giao đất, bà Hoa vẫn chuyển giao đất cho ông Phát với giá 50 lượng vàng và ông Phát đã giao cho bà Hoa 45 lượng vàng. “Tháng 8-2000, ông Phát khởi kiện đòi lại số vàng đã giao cho bà Hoa nhưng bà Hoa cho rằng, phía ông Phát đã vi phạm hợp đồng và thời hiệu khởi kiện đã hết nên không đồng ý trả vàng cho ông Phát” (Quyết định giám đốc thẩm số 16/GĐT-DS ngày 28/1/2003 của Tòa dân sự TANDTC).

Hoặc viện dẫn mất quyền yêu cầu tòa án do hết thời hiệu khởi kiện cũng có thể xuất phát từ cơ quan tiến hành tố tụng. Ví dụ: năm 1995, Công ty A bán cho Công ty B 64 tấn dầu. Khi có tranh chấp, TAND TP. Hà Nội buộc B bồi thường cho A một khoản tiền. Sau đó, tại bản án số 134 ngày 20/9/1997, Tòa phúc thẩm TANDTC buộc B phải thanh toán cho A một khoản tiền nhỏ hơn. Như vậy, TAND TP Hà Nội và Tòa phúc thẩm TANDTC thụ lý vụ việc và không đề cập đến vấn đề thời hiệu khởi kiện trong bản án. Tuy nhiên, trong Kháng nghị số 01/KT-TK ngày 23/3/1998, theo Chánh án TANDTC, “thời điểm phát sinh tranh chấp hợp đồng được tính từ ngày 5/10/1995. Theo quy định tại Điều 31 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì thời hiệu khởi kiện là 6 tháng kể từ ngày phát sinh tranh chấp. Trong thời hiệu khởi kiện (từ ngày 5/10/1995 đến hết ngày 5/4/1996) A đã không làm đơn khởi kiện… Do đó, kể từ ngày 6/4/1996, A không còn quyền khởi kiện ra tòa án đối với B về việc vi phạm hợp đồng kinh tế nêu trên”. ở ví dụ này, chính Chánh án TANDTC đã viện dẫn việc mất quyền khởi kiện của bên A. Trong thực tiễn, việc cơ quan tố tụng tự viện dẫn mất quyền khởi kiện của một bên trong tranh chấp hợp đồng diễn ra không ít.

Như vậy, khi hết thời hiệu khởi kiện, quyền yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp của một bên trong hợp đồng bị mất. Điều đó là hợp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của một bên trong hợp đồng bởi thời gian càng lâu thì họ càng gặp khó khăn trong việc đưa ra biện pháp phòng vệ. Tuy nhiên, việc cơ quan tiến hành tố tụng tự viện dẫn việc hết thời hiệu để không giải quyết vụ án dân sự thì thực tiễn pháp luật Việt Nam khác với nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới. Theo Điều 2223 Bộ luật Dân sự Pháp, thẩm phán không thể tự viện dẫn việc hết thời hiệu khởi kiện. Pháp luật của các nước Bỉ, Lúc-xăm-bua, ý, Tây Ban Nha cũng quy định tương tư. Trong thực tiễn của nước Pháp, Tòa án tối cao Pháp thường xuyên hủy bản án sơ thẩm hay phúc thẩm trong đó thẩm phán tự mình viện dẫn việc mất quyền khởi kiện của một bên trong hợp đồng do hết thời hiệu trong khi không được bên kia của hợp đồng yêu cầu.

Thực tiễn trên của Việt Nam cũng khác với một số bộ nguyên tắc về hợp đồng được đánh giá cao trên bình diện quốc tế. Ví dụ, Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng chỉ cho phép bên có nghĩa vụ của hợp đồng được viện dẫn việc hết thời hiệu và quy định là khi hết thời hiệu khởi kiện, “bên có nghĩa vụ được quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ”. Và theo Điều 10.9, Khoản 1 Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế, “việc hết thời hiệu chỉ có hiệu lực nếu bên có nghĩa vụ viện dẫn việc hết thời hiệu như là một biện pháp tự vệ”. Như vậy, trong các hệ thống luật nêu trên, việc hết thời hiệu không có hiệu lực tự động mà nó chỉ có hiệu lực khi một bên viện dẫn điều đó như một biện pháp tự vệ. ở đây, cơ quan tố tụng không được tự viện dẫn việc hết thời hiệu để từ chối quyền yêu cầu của một bên trong hợp đồng nếu không được bên kia yêu cầu.

Mặc khác, việc cơ quan tiến hành tố tụng tự viện dẫn việc một bên mất quyền khởi kiện khi không được bên kia trong hợp đồng yêu cầu dường như đi ngược lại với tinh thần của nguyên tắc tự do quyết định, định đoạt của đương sự được ghi nhận tại Điều 5 BLTTDS, trong khi đó, quan hệ hợp đồng là loại quan hệ mà quyền định đoạt và quyết định của các bên là rất cao. Theo đó, điểm a, Khoản 1, Điều 168 BLTTDS quy định chung chung rằng, tòa án trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp thời hiệu khởi kiện đã hết là không hợp lý.

Thiết nghĩ, để pháp luật Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế và để tôn trọng quyền tự do quyết định, định đoạt của các bên trong tranh chấp hợp đồng, không nên cho phép cơ quan tiến hành tố tụng tự viện dẫn việc mất quyền khởi kiện của một bên khi không được bên kia yêu cầu. Đồng thời, để giải pháp này được áp dụng hài hòa thì điểm a, Khoản 1, Điều 168 BLTTDS nên quy định là: trong lĩnh vực hợp đồng, tòa án chỉ trả lại đơn khởi kiện vì thời hiệu khởi kiện đã hết nếu được một bên trong tranh chấp yêu cầu việc đó.

2. Hết thời hiệu không làm mất quyền phát sinh quyền yêu cầu tòa án

Quyền yêu cầu tòa án can thiệp phát sinh từ quyền mà một bên được yêu cầu bên kia thực hiện. Ví dụ, quyền của một bên yêu cầu tòa án buộc bên kia thanh toán một khoản tiền phát sinh từ quyền bên này được yêu cầu bên kia thanh toán khoản tiền cho vay. Chẳng hạn, A cho B vay 100 triệu đồng. Vậy, A có quyền yêu cầu B thanh toán khoản tiền này và quyền này làm phát sinh quyền của A yêu cầu tòa án giải quyết buộc B thanh toán. Khi hết thời hiệu khởi kiện, quyền khởi kiện bị mất. Vấn đề đặt ra là liệu việc mất quyền yêu cầu tòa án có dẫn đến mất quyền làm phát sinh quyền yêu cầu tòa án không? Pháp luật Việt Nam không quy định rõ ràng về vấn đề này. Vụ tranh chấp giữa bà Bé và bà Xuân nêu trên là một ví dụ minh hoạ.

Chấm dứt hay không chấm dứt quyền phát sinh quyền yêu cầu toà án?

Trong tranh chấp giữa bà Bé và bà Xuân, bên cạnh việc xét rằng bà Xuân mất quyền khởi kiện, Tòa sơ thẩm còn nêu “bà Xuân đã mất quyền khởi kiện nên mặc nhiên bà Bé không còn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ đã vay”. Như vậy, theo Tòa sơ thẩm, việc mất quyền yêu cầu tòa án giải quyết do hết thời hiệu làm mất quyền đòi nợ của bà Xuân và làm biến mất nghĩa vụ thanh toán nợ của bà Bé.

Giải pháp của Tòa sơ thẩm không được Chánh án TANDTC chấp nhận. Trong Kháng nghị số 72/KNDS ngày 03/9/2004, Chánh án TANDTC có nêu: việc giải quyết như trên “là không chính xác, vì pháp luật hiện hành chỉ xác định hết thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì Toà án không thụ lý giải quyết”. Quan điểm trên của Chánh án TANDTC được Tòa dân sự TANDTC chấp nhận. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 136 ngày 18/11/2004 Toà dân sự TANDTC nhận định: “Toà án cấp sơ thẩm tuy đã đình chỉ việc giải quyết vụ kiện là đúng pháp luật nhưng trong phần nhận định của bản án, Toà án cấp sơ thẩm cho rằng bà Xuân đã mất quyền khởi kiện nên mặc nhiên bà Bé không còn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ đã vay là không chính xác, vì pháp luật hiện hành chỉ xác định hết thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì toà án không thụ lý giải quyết”.

Như vậy, trong lĩnh vực hợp đồng, theo thực tiễn pháp lý Việt Nam, việc mất quyền khởi kiện không dẫn đến mất quyền làm phát sinh quyền yêu cầu tòa án. Với giải pháp trên, thực tiễn pháp lý Việt Nam làm cho pháp luật Việt Nam phù hợp với pháp luật nhiều nước trên thế giới. Theo pháp luật Đức, khi thời hiệu khởi kiện hết, quyền làm phát sinh quyền yêu cầu tòa án không chấm dứt. Quy định đó tương tự như pháp luật của Hy Lạp, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Ailen, Bồ Đào Nha và Khoản 1, Điều 10.9 Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế rằng “việc hết thời hiệu không chấm dứt quyền”.

Hậu quả của việc không mất quyền

Theo thực tiễn pháp lý Việt Nam, quyền làm phát sinh quyền yêu cầu tòa án không chấm dứt khi thời hiệu khởi kiện đã hết. Chúng tôi cho rằng, giải pháp này là hợp lý và phù hợp với nhiều hệ thống luật trên thế giới như đã nêu.

Giải pháp này dẫn đến hậu quả là nếu bên có nghĩa vụ đã tự giác thực hiện nghĩa vụ thì không được đòi lại. Trong ví dụ trên, nếu bà Bé tự thanh toán cho bà Xuân mặc dù thời hiệu đã hết thì không được đòi lại khoản tiền đã trả. Vì quyền đó vẫn tồn tại nên bên có quyền vẫn có thể sử dụng để bù trừ nghĩa vụ của mình với bên kia. Ví dụ, nếu bà Xuân cũng phải trả bà Bé một khoản tiền thì bà Xuân có thể sử dụng khoản tiền mà mình cho vay để bù trừ với món nợ mà mình phải trả cho bà Bé.

Cũng cần phải thấy rằng, giải quyết hậu quả của giải pháp trên không đơn giản. Ví dụ, vì món nợ hết thời hiệu vẫn tồn tại thì liệu món nợ đó có tiếp tục làm phát sinh lãi suất không? Trong ví dụ liên quan đến tranh chấp giữa bà Xuân và bà Bé, các bên thỏa thuận là lãi suất 3%/tháng, liệu lãi suất trên có tiếp tục được tính không? Còn nữa, những biện pháp bảo đảm cho món nợ đó có chấm dứt không? Trong ví dụ trên, bà Bé đã thế chấp một bộ đơn xin hợp thức hóa nhà và một bộ hộ khẩu, số phận những tài liệu thế chấp này được giải quyết ra sao? Trong trường hợp không thể nhận lại những giấy tờ đó, bà Bé có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại không? Câu trả lời vẫn đang bỏ ngỏ và cần sự bàn luận của nhiều nhà luật học, nhà nghiên cứu và của bạn đọc Hiến kế Lập pháp.

SOURCE: Tạp chí nghiên cứu lập pháp (Chưa xác định cụ thể được số tạp chí và thời gian phát hành)

KỸ NĂNG ĐẶC THÙ TRONG THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
bặ
Để làm tốt hoạt động thụ lý vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, tạo tiền đề giải quyết vụ án nhanh chóng và hiệu quả, trước tiên Thẩm phán phải nắm vững kỹ năng chung trong hoạt động thụ lý đối với tất cả các vụ án dân sự theo nghĩa rộng (dân sự; hôn nhân gia đình; Kinh doanh, thương mại; Lao động)….Các kỹ năng bao gồm từ việc nhận đơn; Kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ khởi kiện; Xác định các điều kiện để thụ lý vụ án (Điều kiện về quyền khởi kiện của người khởi kiện; điều kiện về thẩm quyền; điều kiện sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, trừ trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 168 BLTTDS; điều kiện về người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí và xuất trình biên lai thu tạm ứng án phí trong thời hạn được thông báo, trừ trường hợp có lý do chính đáng khác); Thủ tục thụ lý và kỹ năng soạn thảo một số văn bản trong giai đoạn thụ lý…

Mục đặc thù trong thụ lý vụ án dân sự chỉ đề cập đến những kỹ năng cần phải chú ý thêm đối với một số vụ án dân sự cụ thể.

1.2.1. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng

Trước hết, cần nghiên cứu đơn khởi kiện để xác định tính hợp pháp của đơn khởi kiện đã đáp ứng đầy đủ về nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 164 BLTTDS hay chưa. Đơn khởi kiện phải trình bày cụ thể nội dung tranh chấp, yêu cầu cụ thể của nguyên đơn và thể hiện rõ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm hay tranh chấp như thế nào. Khi nghiên cứu đơn kiện cần đặc biệt lưu ý đến yêu cầu khởi kiện: đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, yêu cầu hủy hợp đồng, yêu cầu phạt hợp đồng, tranh chấp về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng như đặc cọc, thế chấp, bảo lãnh….

Nguyên tắc chung khi xác định quyền khởi kiện của đương sự cần phải kiểm tra tư cách chủ thể kiện. Nếu là cá nhân, người khởi kiện phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự, nếu là pháp nhân, người khởi kiện phải là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền cho người khác khởi kiện, Thẩm phán cần kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng ủy quyền về nội dung và hình thức theo quy định của BLDS về hợp đồng ủy quyền và Nghị định số 75/CP về công chứng chứng thực. Thẩm phán cũng cần có sự phân biệt việc ủy quyền giữa cá nhân, pháp nhân, ủy quyền thường xuyên hay ủy quyền theo vụ việc.

Ví dụ, A xác lập hợp đồng vay tiền ở Ngân hàng Công thương chi nhánh quận Đống Đa, Hà nội thời hạn vay tiền từ ngày 20/5/2006 đến ngày 20/7/2006. Đến hạn trả nợ ngày 20/7/2006 A không trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy giám đốc chi nhánh Ngân hàng Công thương quận Đống Đa đã đại diện cho Ngân hàng làm đơn khởi kiện ra Tòa. Trong trường hợp này, khi kiểm tra điều kiện khởi kiện, Thẩm phán cần lưu ý theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của các Ngân hàng chuyên doanh (ví dụ, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng đầu tư và phát triển…) thì các chi nhánh không có quyền tham gia tố tụng khi không có ủy quyền của Tổng giám đốc. Vì vậy, khi thụ lý giải quyết tranh chấp này Tòa án cần kiểm tra giám đốc chi nhánh Ngân hàng công thương quận Đống Đa có được ủy quyền hợp lệ của Tổng giám đốc Ngân hàng công thương tham gia tố tụng không.

Thẩm phán cũng cần kiểm tra hồ sơ khởi kiện, các chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đối với loại vụ án tranh chấp hợp đồng, các giấy tờ liên quan đến yêu cầu kiện của nguyên đơn thông thường bao gồm:

- Các giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể kiện: Nếu là cá nhân thì giấy tờ thường là chứng minh thư nhân dân, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình; nếu là pháp nhân, tổ chức thì giấy tờ bao gồm quyết định thành lập pháp nhân, tổ chức; Giấy phép đầu tư; giấy đăng ký kinh doanh, điều lệ pháp nhân, ….

- Các giấy tờ chứng minh nguồn gốc tài sản là đối tượng giao dịch của hợp đồng. Ví dụ, tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở thì đương sự phải nộp các giấy tờ về nguồn gốc nhà; Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đương sự phải nộp các giấy tờ chứng minh về nguồn gốc đất…

- Các bản hợp đồng, các giấy tờ liên quan đến giao dịch. Ví dụ, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn phải xuất trình các giấy tờ chứng minh như hợp đồng vay, giấy biên nhận vay tiền, giấy khất nợ, tài liệu thừa nhận việc vay nợ, giấy xác nhận của người làm chứng chứng kiến việc cho vay…;

- Các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.

Khi nghiên cứu về thẩm quyền theo lãnh thổ, trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là bất động sản, khi thụ lý yêu cầu khởi kiện của đương sự phải xác định rõ yêu cầu của đương sự là tranh chấp về bất động sản hay tranh chấp về các nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng để xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Nguyên tắc chung, nếu tranh chấp là bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản thuộc đối tượng của hợp đồng là Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (điểm c, khoản 1 Điều 35 BLTTDS).

Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là bất động sản ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể lựa chọn Tòa án nơi có một trong các bất động sản để giải quyết (điểm i khoản 1 Điều 36 BLTTDS). Thẩm phán cũng cần kiểm tra sự lựa chọn của nguyên đơn về Tòa án giải quyết tranh chấp, cụ thể là:

- Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết” (điểm b, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);

- Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết (điểm g, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);

Khi nhận đơn khởi kiện, trong trường hợp nguyên đơn được lựa chọn nhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Thẩm phán cần lưu ý hướng dẫn cho nguyên đơn cam kết trong đơn kiện chỉ khởi kiện ở Tòa án nguyên đơn đã lựa chọn mà không khởi kiện tại các Tòa án khác.

Xác định thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về hợp đồng cần áp dụng quy định của pháp luật tương ứng với thời điểm xác lập hợp đồng. Vấn đề mấu chốt để xác định thời hiệu trước tiên phải xác định được tính chất của yêu cầu và thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm. Ví dụ, đương sự tranh chấp về việc chậm thực hiện nghĩa vụ, để xác định chính xác thời hiệu khởi kiện, Thẩm phán phải xác định chính xác thời điểm thực hiện nghĩa vụ.

Nguyên tắc chung khi xác định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng, Thẩm phán phải nắm vững quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật nội dung có quy định về thời hiệu khởi kiện. Trong trường hợp, văn bản quy phạm pháp luật không quy định về thời hiệu khởi kiện thì áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 159 BLTTDS để xác định thời hiệu khởi kiện:

- Đối với tranh chấp hợp đồng dân sự xác lập trước ngày 1/7/1991. Thời điểm này không có quy định áp dụng thời hiệu khởi kiện, vì vậy thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Điều 159 BLTTDS và hướng dẫn tại mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004. Việc bắt đầu thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 162 BLDS 2005 cũng được áp dụng cho việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng giao kết trước ngày 1/7/1996;

- Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập từ ngày 1/7/1991 đến ngày 1/7/1996 áp dụng Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991, thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể từ ngày “vi phạm hợp đồng”;

- Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/2005 được quy định cụ thể tại tiểu mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004, cụ thể là:

+ Nếu tranh chấp hợp đồng phát sinh trước ngày 1/1/2005, thì thời hạn 2 năm, kể từ ngày 1/1/2005;

+ Nếu tranh chấp phát sinh từ ngày 1/1/2005, thì thời hạn 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm.

- Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập kể từ ngày 1/1/2006 thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Điều 427 BLDS năm 2005. Theo đó, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm.

Thẩm phán cần lưu ý việc tính thời hiệu kể từ “ngày tranh chấp phát sinh” (theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC cũng chính là ngày ‘vi phạm hợp đồng” (Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự), “ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm” (điểm a, khoản 3, Điều 159 BLTTDS).

Trường hợp đương sự đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, thì thời hiệu phụ thuộc vào các quy định tương ứng của BLDS. Thẩm phán cần lưu ý trong việc áp dụng quy định tại Điều 136 BLDS năm 2005 “Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu’ để kiểm tra về thời hiệu khởi kiện.

1.2.2. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

Bên cạnh kiểm tra đơn khởi kiện theo nguyên tắc chung, Thẩm phán cần kiểm tra năng lực hành vi tố tụng dân sự của người khởi kiện, kiểm tra việc vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Thẩm phán cũng phải xác định rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là gì trên cơ sở đó xác định các điều kiện thụ lý cụ thể mang tính đặc thù riêng của từng quan hệ pháp luật tranh chấp về quyền sử dụng đất. Trong thực tiễn xét xử các tranh chấp về quyền sử dụng đất của đương sự thông thường rơi vào một trong các dạng tranh chấp cơ bản sau:

- Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, tranh chấp về đòi lại đất do người khác đang sử dụng;

- Tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất;

- Tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất.

Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất, Thẩm phán cần lưu ý kiểm tra việc khởi kiện có đủ điều kiện khởi kiện không. Theo quy định tại Điều 135 Luật Đất đai năm 2003 các tranh chấp đất đai phải được hòa giải tại cấp xã, phường trước khi đương sự khởi kiện đến Tòa án. Khi các bên có tranh chấp đất đai mà không tự hòa giải được thì gửi đơn đến ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. ủy ban nhân dân xã, phường, Thị trấn nơi có đất tranh chấp có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai.

Như vậy, Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, việc tổ chức hòa giải của UBND cấp xã, phường kết hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận hay các tổ chức xã hội khác là điều kiện bắt buộc phải có trước khi Tòa án nhận đơn của đương sự. Nếu không có việc hòa giải của UBND cấp xã, phường thì các đương sự sẽ bị coi là chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 168 BLTTDS.

Việc kiểm tra điều kiện về thẩm quyến giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất cũng dựa trên cơ sở chung về xác định thẩm quyền tương tự như các loại vụ án dân sự khác (nguyên tắc xác định thẩm quyền theo loại việc, theo cấp Tòa án. Xác định thẩm quyền theo lãnh thổ ưu tiên xác định Tòa án nơi có bất động sản và xác định thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu trong trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất ở nhiều địa phương khác nhau.

Đặc trưng cơ bản khi xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Thẩm phán phải có sự phân biệt giữa thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất của Tòa án và thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của các cơ quan hành chính (theo quy định của Luật đất đai năm 2003). Đồng thời để xác định chính xác thẩm quyền, Thẩm phán cũng phải phân biệt rõ tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự với các quan hệ khiếu kiện liên quan đến quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính.

Cơ sở để xác định chính xác thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, trước tiên cần dựa trên việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án thuộc loại tranh chấp đất đai nào. Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự thuộc các quan hệ tranh chấp nằm một trong 3 nhóm tranh chấp quyền sử dụng đất sau:

- Nhóm 1: Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất: Đây là tranh chấp phát sinh trong quá trình sử dụng đất không liên quan đến các giao dịch về đất. Về bản chất, khi giải quyết tranh chấp này Tòa án phải xác định chủ quyền đất thuộc về ai. Đối với loại tranh chấp này, điều kiện bắt buộc để xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là đương sự phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003;

- Nhóm 2: Tranh chấp liên quan đến các giao dịch về đất (các giao dịch này có thể là tranh chấp về chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Chuyển đổi quyền sử dụng đất; Cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; Thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; thừa kế quyền sử dụng đất…). Thẩm phán cần lưu ý trong mọi trường hợp yêu cầu của đương sự thuộc loại tranh chấp này đều thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Đối với các dạng tranh chấp thuộc nhóm 2 này, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án không cần điều kiện đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay có một trong các loại giấy tờ được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 hay không;

- Nhóm 3: Tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 những tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất đều do Tòa án nhân dân giải quyết. Khi thụ lý giải quyết dạng tranh chấp thuộc nhóm 3, Thẩm phán cần xác định các tài sản tranh chấp có thể là một trong các tài sản sau: Nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây hàng rào gắn với nhà ở; Các công trình xây dựng trên đất được giao hoặc được thuê để sản xuất kinh doanh (nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới tiêu, chuồng trại chăn nuôi) hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, các cây lâu năm khác gắn với việc sử dụng đất.

Đối với các dạng tranh chấp thuộc nhóm 3, người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Khi có đơn khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất, Tòa án căn cứ vào các quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính Phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất, Điều 7, Điều 9 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính Phủ về án phí, lệ phí Tòa án, Điều 130 BLTTDS có thể tham khảo thêm ý kiến của cơ quan tài chính vật giá và các cơ quan chức năng khác để tạm xác định giá quyền sử dụng đất có tranh chấp và trên cơ sở đó tính tiền tạm ứng án phí của vụ án để thông báo về việc nộp tạm ứng án phí cho đương sự.

Một số trường hợp cần tham khảo các hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao khi tính tạm ứng án phí: Những vụ án tranh chấp đòi nhà cho mượn, cho ở nhờ, cho thuê thì là vụ án không có giá ngạch (Công văn số 451/KHXX ngày 20/7/1994 của Tòa án nhân dân tối cao;. Những vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất là vụ án có giá ngạch (điểm 9 mục IV Công số số 16/1999/KHXX ngày 1/2/1999 của Tòa án nhân dân tối cao).

1.2.3. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp về thừa kế

Thẩm phán kiểm tra đơn kiện, tư cách chủ thể kiện, xác định các loại tranh chấp về thừa kế thuộc dạng tranh chấp nào:

- Tranh chấp về quyền thừa kế: Quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác;

- Tranh chấp thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp luật;

- Tranh chấp về di sản thừa kế nhà ở, quyền sử dụng đất;

- Tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản.

Xác định các giấy tờ cần thiết mà người khởi kiện phải xuất trình để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình (căn cứ theo quy định tại Điều 165 BLTTDS): Di chúc (nếu có), giấy chứng tử, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, sơ yếu lý lịch, các giấy tờ chứng minh di sản…

Thẩm phán cần xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự, xác định thời điểm mở thừa kế – thời điểm người có tài sản chết để kiểm tra về thời hiệu khởi kiện.

* Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế: Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được xác định là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế đối với các vụ án có thời điểm mở thừa kế kể từ ngày 1/7/1991 (khoản 1, Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1991; Điều 648 BLDS 1995; Điều 645 BLDS 2005);

Khi xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, Thẩm phán cũng cần lưu ý một số các quy định khác về thời hiệu được quy định trong BLDS, đặc biệt là những trường hợp không tính vào thời hiệu khởi kiện. Cụ thể là:

- Vụ án có rơi vào trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 161 BLDS 2005: Do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu; Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết;

- Thẩm phán cần lưu ý các quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 162 BLDS 2005;

- Quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (30/8/1990). Việc xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trên thực tế cũng tương đối phức tạp liên quan đến khá nhiều các văn bản khác nhau và việc xác định thời điểm mở thừa kế. Đối với việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (ngày 30/8/1990), theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế thì thời hiệu khởi kiện đến hết ngày 9/9/2000. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 58/UBTVQH10 ngày 25/8/1998 của Uỷ ban thường vụ quốc hội từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/1998 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 1/7/1991. Do vậy, thời hiệu khởi kiện loại việc này được tính đến ngày 9/3/2003. Bắt đầu từ ngày 10/3/2003 đương sự không còn quyền khởi kiện đối với những vụ án thừa kế có thời điểm mở thừa kế trước ngày 10/9/1990.

Đối với những vụ án thừa kế có thời điểm mở thừa kế từ ngày 10/9/1990 đến trước ngày 1/7/1991 đây cũng là loại vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết do đợi Nghị quyết 58/1998, thời gian từ 1/7/1996 đến 31/1/21998 cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện, do vậy những vụ án thừa kế có thời hiệu khởi kiện trong khoảng thời gian từ 10/9/1990 đến ngày 30/6/1991 đến 1/1/2004 mới hết thời hiệu khởi kiện.

Ngoài ra, khi thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp về quyền thừa kế, Thẩm phán cũng cần lưu ý quy định về “không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế’ được hướng dẫn tại Mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết”.

Hướng dẫn này cho thấy có sự chuyển hóa về quan hệ giữa yêu cầu chia thừa kế và yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Khi đương sự có yêu cầu chia tài sản chung ở thời điểm hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế, Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết khi có tài liệu thể hiện các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế, và có đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia.

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản:

- Đối với việc mở thừa kế trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế thì thời hiệu khởi kiện được xác định là 3 năm kể từ ngày banh hành Pháp lệnh thừa kế (khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990);

- Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (30/8/1990) thời hiệu khởi kiện được xác định là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (khoản 2 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990);

- Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/2005: áp dụng thời hiệu khởi kiện 2 năm quy định tại Điều 159 BLTTDS để xác định thời hiệu khởi kiện về yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản (do tại Điều 648 BLDS 1996 không quy định về thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu này);

- Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày 1/1/2006 thời hiệu khởi kiện về về yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được xác định là 3 năm kể từ ngày người có di sản thừa kế chết (Điều 645 BLDS 2005)

Về thẩm quyền giải quyết, trường hợp vụ án có tranh chấp di sản là bất động sản, khi xác định thẩm quyền theo lãnh thổ lưu ý áp dụng quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 35 BLTTDS. Nếu di sản thừa kế là bất động sản ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bất động sản giải quyết. Việc xác định thẩm quyền này dựa trên cơ sở điểm i, khoản 1 Điều 36 BLTTDS.

Thẩm phán cũng cần xem xét trường hợp vợ góa hoặc chồng góa có quyền yêu cầu chưa chia di sản nếu trong thời hạn nhất định (không quá 3 năm) việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của họ (khoản 3 Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 12 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000);

1.2.4. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Khi kiểm tra đơn khởi kiện Thẩm phán cần lưu ý nghiên cứu kỹ nội dung đơn kiện xem xét các dấu hiệu pháp lý nhằm xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của đương sự và bản chất pháp lý của yêu cầu để Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nào:

- Bồi thường thiệt hại về tài sản do hành vi xây dựng trái pháp luật gây ra;

- Bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín;

- Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra;

- Bồi thường thiệt hại do người của Pháp nhân gây ra;

- Bồi thường thiệt hại do xúc vật gây ra…

Thẩm phán cần có sự phân biệt quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với quan hệ thực hiện công việc không có ủy quyền và yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hợp đồng (đặc biệt là loại hợp đồng dịch vụ).

Các giấy tờ cần thiết mà đương sự phải nộp để chứng minh cho yêu cầu của mình trong loại vụ án này là: Các giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể kiện; các chứng cứ chứng minh thiệt hại; các văn bản, tài liệu giải quyết của các cơ quan chức năng (nếu có)…

Xuất phát từ đặc trưng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải lúc nào người gây thiệt hại cũng là người phải trực tiếp bồi thường, khi kiểm tra đơn khởi kiện, Thẩm phán cần hướng dẫn cho đương sự (nguyên đơn) khởi kiện đúng đối tượng trong những trường hợp người gây thiệt hại là vị thành niên và trong những trường hợp người có trách nhiệm bồi thường không phải là người trực tiếp gây thiệt hại (trường hợp thiệt hại do người của pháp nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước gây ra hoặc do tài sản của chủ sở hữu gây ra…).

Ví dụ: A là lái xe của pháp nhân B, trên đường đi thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân B giao, A đâm vào C gây tai nạn cho C. Trong trường hợp này C có quyền yêu cầu pháp nhân B phải bồi thường thiệt hại cho mình theo quy định tại Điều 618 BLDS. Tuy nhiên nếu C không kiện pháp nhân B mà chỉ kiện A, trong trường hợp này Tòa án nên hướng dẫn C khởi kiện đúng đối tượng là pháp nhân B. Nếu C vẫn không khởi kiện pháp nhân B, thì vẫn phải xác định A là bị đơn – người bị nguyên đơn khởi kiện cho rằng đã xâm phạm lợi ích của họ. Tòa án cần đưa pháp nhân B (người có trách nhiệm bồi thường – theo quy định tại Điều 618 BLDS 2005) tham gia với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Khi kiểm tra tư cách chủ thể kiện, Thẩm phán cần đặc biệt lưu ý xác định tư cách chủ thể khởi kiện, xác đinh người đại diện cho đương sự tham gia tố tụng, các trường hợp ủy quyền và ủy quyền lại;

Thực tiễn xét xử nhiều trường hợp vụ án bồi thường thiệt hại được chuyển đến Tòa án từ cơ quan điều tra hình sự. Trong những trường hợp này, Thẩm phán cần lưu ý phải hướng dẫn cho nguyên đơn làm đơn khởi kiện theo đúng quy định của BLTTDS.

Về thẩm quyền giải quyết, trong vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 36 BLTTDS: Tòa án nơi nguyên đơn cư trú; Tòa án nơi nguyên đơn làm việc; Tòa án nơi nguyên đơn có trụ sở; Tòa án nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết

Khi nhận đơn khởi kiện, Thẩm phán cần lưu ý giải thích cho nguyên đơn biết là chỉ có một Tòa án trong các Tòa án được điều luật quy định mới có thẩm quyền giải quyết vụ án để họ lựa chọn.

Khi kiểm tra thời hiệu giải quyết, nguyên tắc chung Thẩm phán phải xác định ngày tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm theo quy định tại Điều 159 BLTTDS trong các trường hợp cụ thể. Trong trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm trước ngày 1/1/2006 thì thời hiệu khởi kiện được xác định căn cứ theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 159 BLTTDS và hướng dẫn tại mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004. Trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm kể từ ngày 1/1/2006 áp dụng quy định tại Điều 607 BLDS năm 2005 thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được xác định là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm.

Ngoài ra, theo quy định chung điều kiện để Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là vụ án chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác. Tuy nhiên, một số vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mặc dù đã được Tòa án giải quyết và đang thi hành thì Tòa án vẫn được quyền thụ lý giải quyết vụ án mới nếu người bị thiệt hại khởi kiện lại cho rằng mức bồi thường đang thi hành không còn phù hợp nữa.

Vụ án yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì Tòa án không yêu cầu người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí (Điều 13 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án.

1.2.5. Kỹ năng thụ lý vụ án ly hôn

Khi kiểm tra đơn khởi kiện, Thẩm phán phải xác định rõ yêu cầu của đương sự thể hiện trong đơn, kiểm tra các điều kiện kết hôn, thủ tục kết hôn để xác định quan hệ hôn nhân của đương sự là hợp pháp, hôn nhân trái pháp luật hay không phải là quan hệ hôn nhân. Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, Thẩm phán phải làm rõ trong trường hợp nào họ được coi là vợ chồng, trường hợp nào không được coi là vợ chồng để xác định quan hệ pháp luật và thủ tục tố tụng (việc hôn nhân gia đình hay án hôn nhân gia đình) để vào sổ thụ lý giải quyết.

Thẩm phán cần căn cứ theo yêu cầu của đương sự và các chứng cứ mà đương sự xuất trình để áp dụng các căn cứ pháp lý sau khi xác định quan hệ pháp luật:

- Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội khóa X về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Khi xem xét đơn khởi kiện, Thẩm phán cần phải xác định các vấn đề về hôn nhân, tài sản và con cái có được các đương sự thỏa thuận giải quyết không, thỏa thuận cụ thể của đương sự là gì, vấn đề gì đương sự không thỏa thuận được. Việc khởi kiện vụ án ly hôn phải do chính các đương sự khởi kiện không được ủy quyền cho người khác thay mình, trừ các vấn đề tranh chấp về tài sản và con (khoản 3 Điều 73 BLTTDS);

Thẩm phán cần kiểm tra các giấy cần cần thiết kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn: Giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh của con, các giấy tờ chứng minh tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng; giấy vay, nợ (nếu có)…

Thẩm phán cần tiến hành kiểm tra năng lực hành vi tố tụng dân sự của người khởi kiện. Xác định người khởi kiện có thuộc trường hợp hạn chế quyền khởi kiện đối với trường hợp người chồng xin ly hôn mà vợ đang có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng (căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS);

Khi người vợ đang thuộc một trong các trong các trường hợp đang có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi (không phân biệt có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), người chồng có yêu cầu xin ly hôn Tòa án trả lại đơn kiện cho người nộp đơn (mục 6 hướng dẫn của Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000).

Trường hợp Tòa án đã bác đơn xin ly hôn thì đương sự không được kiện lại trong thời hạn 1 năm. Sau một năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực pháp luật, người có đơn xin ly hôn mà bị Tòa án bác đơn xin ly hôn mới được quyền kiện lại (mục c, điểm 10 Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)

Thẩm quyền theo vụ việc được xác định theo ý chí của các đương sự (thuận tình hay ly hôn do một bên yêu cầu…) thể hiện trong đơn và tính chất của quan hệ hôn nhân. Nếu việc ly hôn do một bên yêu cầu thì đó là vụ án dân sự, được thụ lý theo khoản 1 Điều 27 BLTTDS. Nếu thuận tình ly hôn, hủy hôn nhân trái pháp luật thì đó là việc dân sự, được thụ lý theo khoản 2, khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

Xác định thẩm quyền theo cấp Tòa án tương tự như các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình khác. Lưu ý hướng dẫn tại mục 4 “về khoản 3 Điều 33 BLTTDS, phần I “Thẩm quyền của Tòa án” Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung của BLTTDS năm 2004” thì vụ án có đương sự ở nước ngoài; tài sản ở nước ngoài; Cần ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Nhưng vụ án có đương sự là nước ngoài, hiện đang sinh sống, làm việc ở Việt Nam thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Đối với yêu cầu giải quyết việc ly hôn, giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam (khoản 3 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình 2000);

Việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ nguyên tắc chung được xác định theo nơi cư trú hoặc làm việc của bị đơn (điểm a, khoản 1 Điều 35 BLTTDS).

Khi kiểm tra điều kiện về thẩm quyền, Thẩm phán cần lưu ý về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu:

- Nếu không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú làm việc cuối cùng (điểm a, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);

- Nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc giải quyết nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc ở Việt Nam (điểm c, khoản 1 Điều 36 BLTTDS;

Về việc nộp tạm ứng án phí, về nguyên tắc, khi đương sự có yêu cầu ly hôn (ly hôn do một bên yêu cầu), đương sự chỉ phải nộp tạm ứng án phí của vụ án không có giá ngạch là 50.000 đồng (khoản 1 Điều 7 Nghị định 70 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 130 BLTTDS). Trường hợp có tranh chấp về tài sản thì người nộp đơn khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí theo tỷ lệ của giá trị tài sản tranh chấp (khoản 3 Điều 7 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 130 BLTTDS) Nếu các bên có thỏa thuận được về tài sản thì tạm ứng án phí chỉ là 50.000 đồng (Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 về việc giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng…)

———————————————-

SOURCE: http://WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

sao gửi mãi chẳng thấy đc ta

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Chuyên mục

Lưu trữ

Blog Stats

  • 51,903 hits
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: